Thứ Hai, 19 tháng 4, 2010

Dân dã miến cá rô đồng

Vừa thanh đạm mà bổ dưỡng, miến cá rô đồng là món ngon khó có thể thiếu trong những ngày hè.

Cá rô là loài cá nhỏ không bao giờ thiếu vắng trong các cánh đồng lúa nước, cá rô từ lâu đã là loại thực phẩm tạo nên các món ăn dân dã mà hấp dẫn lạ lùng. Ngoài những món truyền thống như cá rô kho tương, cá rô nướng trui, bạn còn có thể tìm thấy một hương vị lạ mà quen từ món miến cá rô.

Ðể làm món miến cá rô, người ta chọn những con cá béo vàng còn tươi rói, đánh vảy, cắt vây, mổ sạch, rồi cho vào nồi luộc chín tới. Cá chín được vớt ra để nguội, bóc thịt hai bên, rút hết xương sao cho thịt không vỡ. Phần thịt cá ấy được ướp qua chút gia vị rồi thả vào chảo dầu đang sôi. Khi vớt ra, cá giòn và thơm thật quyến rũ. Phần xương cá, đầu cá còn lại được giã nhỏ, lọc lấy nước cốt để dành nấu nước dùng, sau đó cho một ít gừng tươi đập dập cho mùi thơm thêm phần quyến rũ cũng như là át bớt mùi tanh của cá.

Miến cá rô ăn vừa mát vừa có dư vị ngọt rất riêng. Sợi miến dai, thịt cá giòn, rau cải xanh thoáng chút hăng, quyện với hương gừng thơm nức. Khi ăn người ta phải dùng đũa, gắp miến, rau và cá lên thìa, rồi thêm cả chút nước dùng thì mới có thể cảm nhận hết được cái ngon của món ăn.

Không chỉ ở những vùng thôn quê, mà cả ở khu vực đô thị, càng ngày người ta càng muốn tìm đến những món ăn mang hương vị của lúa đồng, gió quê như miến cá rô. Cái thuần khiết đến tinh tế trong từng vị cay, chua, mặn ngọt dễ đem lại một cảm giác nhẹ nhàng, thanh thản. Ăn miến cá rô đến no cũng không thấy nặng bụng, khó tiêu bởi sự kết hợp của đầy đủ các chất đạm, béo, tinh bột và rau xanh với một hàm lượng vừa phải, cân đối. Có thể nói, khó có món ăn nào vừa ngon mà lại vừa cân bằng dinh dưỡng như một bát miến cá rô này.

Cá linh - Món ngon mùa nước nổi

Hàng năm, vào khoảng tháng Bảy âm lịch, nước lũ từ thượng nguồn sông Mekong bắt đầu đổ về đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đó cũng là lúc cá linh từ biển Hồ (Campuchia) theo dòng nước lũ tràn về các tỉnh đầu nguồn ĐBSCL như An Giang, Đồng Tháp… Ngư dân nơi đây đua nhau đặt dớn, đặt đó, kéo lưới… bắt cá linh.

Cá linh đầu mùa lũ chỉ bằng ngón tay út mà mọi người thường gọi là cá linh non, giá một ký lô cá đầu mùa lên đến năm, bảy chục ngàn đồng. Dù giá cao như vậy nhưng bán rất chạy. Bởi hầu như người dân đồng bằng thường cho rằng cá linh non ăn bổ dưõng và rất ngon.

Hiện các nhà hàng ở Đồng Tháp có hai món đặc sản mùa nước nổi là cá linh non chiên bột và lẩu cá linh non nấu chua với bông điên điển, bông súng. Cá linh non xương thịt mềm, béo, khi chiên bột vừa có độ giòn của bột vừa béo ngọt của thịt cá, ăn thật ngon miệng. Cá linh là đặc sản trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long..

Hấp dẫn hơn là món cá linh non nấu lẩu chua ăn với bún. Nước lẩu là nước me non có độ chua vừa phải, thêm cùng ngò rai, rau om, rau quế tạo thành hương vị độc đáo. Cá linh non được làm sạch ruột, sắp đầy dĩa, cùng bông điên điển vàng tươi, thêm đĩa bông súng trông thật bắt mắt. Khi nước lẩu sôi, để cá linh non vào, rồi nhúng bông điên điển, bông súng. Thịt cá mềm mại ăn cùng với bông điên điển, bông súng giòn giòn thì khó gì sánh bằng.

Nhà văn Dạ Ngân đã từng viết “Con cá linh diệu kỳ”. Bà nói, “Cá linh nấu chua với bông điên điển thì ngây ngất ngon, không gì sánh được với nó”. Và món cá linh non kho me non thì “Cá linh non kho mẳn (kho lạt) với me trái và ớt xanh bảo đảm ăn chừng năm chén cơm vẫn còn thòm thèm”.

Bây giờ, cá linh không còn nhiều và không còn là món ăn dân dã như trước nữa. Ngoài món lẩu nấu chua và món kho lạt dầm me non, con cá linh non còn được bà con ở vùng ĐBSCL chế biến nhiều món ngon đặc sắc khác như cá linh non nhúng giấm, cá linh non chiên bột, cá linh kho mía, chả cá linh, mắm cá linh, nước mắm cá linh và cả cá linh đóng hộp... món nào cũng ngon; nhưng những ai đã từng ăn món ăn cá linh chế biến truyền thống với các loại rau quả đồng nội thì chẳng bao giờ quên được.

Một Việt kiều sau nhiều năm xa quê hương nhưng vẫn nhớ mãi món cá linh kho mía quê nhà. Ông kể rằng, đứa con gái ông rất mê món cá linh kho mía của bà nội nhưng ở xứ người không có. Một lần đi du lịch Thái Lan, thấy có món cá linh đóng hộp, ông mua về cho con gái. Ăn xong, con gái ông bảo: “Không thể nào ngon bằng món cá linh kho mía của nội ở quê nhà”.

Ngon miệng với món cá Basa sốt Bơ chanh ngày Tết

Sau những ngày Tết đã quá thừa chất dinh dưỡng với những món thịt, bánh chưng, kẹo bánh... bạn và gia đình đã ngán và muốn tìm những món ăn thanh đạm hơn. Vậy những món cá dưới đây sẽ giúp bữa ăn nhà bạn sẽ dễ ngon miệng hơn.

Nguyên liệu

Cá basa phile: 600g. Bột mì: 300g. Trứng gà: 2 quả. Xà lách xoăn tím, xanh: 300g.

Cà chua: 2 quả. Bơ: 20g. Chanh: 1 quả. Hành lá: 100g. Gia vị: muối, bột ngọt, dầu ăn.

Chế biến

Phile cá basa khứa ca rô, ướp gia vị muối, bột ngọt khoảng 5 phút. Trứng gà đánh tan. Lăn cá qua trứng gà rồi tẩm bột mì khô. Dầu ăn nóng đều, cho cá tẩm bột vào chiên vàng.

Xốt bơ chanh: Hành lá xắt nhuyễn. Bơ nấu tan chảy trên lửa nhỏ, nêm muối, bột ngọt cho vừa khẩu vị. Chế bơ nóng chảy vào hành lá, vắt chanh, trộn đều.

Món này dùng nóng với xà lách, cà chua, chấm xốt bơ chanh.

Tôm đồng chữa liệt dương

Theo Đông y, tôm vị cam ôn quy vào can, thận. Tác dụng bổ thận tráng dương, thông nhũ (lợi sữa). Dùng cho các trường hợp thận hư, liệt dương, tắc sữa mụn nhọt, áp-xe, các ổ viêm tấy mưng mủ... Dùng dưới dạng nấu, luộc, hầm, xào, nướng, rán.

Tôm đồng là loại tôm nước ngọt, thịt tôm tươi chứa 18,4% protid, 1% lipid, 161mg% Ca, 292mg% P, 2,2mg% Fe, 0,02mg% vitamin B1, 0,03mg% vitamin B2, 3,2mg% vitamin PP, cung cấp 92 calo. Ngoài ra còn có cholesterol, melatonin, acid béo omega -3. Vỏ tôm có các polysaccharid.

Theo Đông y, tôm vị cam ôn quy vào can, thận. Tác dụng bổ thận tráng dương, thông nhũ (lợi sữa). Dùng cho các trường hợp thận hư, liệt dương, tắc sữa mụn nhọt, áp-xe, các ổ viêm tấy mưng mủ... Dùng dưới dạng nấu, luộc, hầm, xào, nướng, rán. Còn âm hư hoả vượng, có các bệnh ngoài da (chàm chốc, dị ứng...) nên thận trọng.

Một số món ăn từ tôm đồng

- Tôm xào lá hẹ: tôm 125g, rau hẹ 200g thêm gia vị, xào chín. Dùng cho các trường hợp liệt dương giảm dục tính.

- Tôm rang tắc kè: tôm 500g, tắc kè 2 con sấy khô; xuyên tiêu 120g, hồi hương 120g, mộc hương 30g. Mộc hương tán bột để riêng. Tất cả trộn với muối và rượu, rang trên chảo cho chín khô, tán bột, cho bột mịn mộc hương trộn đều, để nguội, cho lọ đậy kín. Mỗi lần uống 1 thìa canh khi đói, uống với chút rượu. Dùng cho bệnh nhân thận hư, liệt dương, di tinh.

Hoặc trứng tôm 20g, trứng chim sẻ 2 - 3 quả; ăn trong ngày.

- Canh tôm chân giò: tôm 100 - 150g, rượu 250 ml, chân giò một cái. Tôm bóc vỏ, cho rượu đun nhỏ lửa cho chín, chân giò làm sạch chặt lát, thêm gia vị (có thể thêm khoai tây, cà rốt...), ninh hầm chín nhừ. Dùng cho sản phụ ít sữa tắc sữa; nam giưới thận hư liệt dương.

- Tôm chần rượu gạo: tôm 500g (bỏ vỏ chần nước sôi), nghiền nát, khi ăn uống kèm rượu nhẹ hâm nóng; ngày 2 - 3 lần, kết hợp với ăn canh chân giò. Dùng cho sản phụ sau đẻ ít sữa.

Tôm càng tươi 100g (bóc vỏ, cắt nhỏ) xào với 20ml rượu trắng hoặc rang tôm rồi đảo lại với rượu; ăn trong ngày. Dùng cho sản phụ sau đẻ ít sữa.

- Canh tôm hoàng kỳ: tôm càng 10 con, hoàng kỳ 20g, thêm gia vị, rau đậu thích hợp nấu canh. Dùng cho các bệnh nhân bị mụn nhọt đã vỡ mủ nhưng lâu ngày chưa hết sưng nề hoặc các sẹo mổ lâu liền.

Các nhà khoa học chiết chất chitosan từ vỏ tôm càng, một chất có tác động kích thích miễn dịch và chống khối u, như một chất kháng acid tự nhiên trong việc cải thiện khả năng hấp thu calci, giảm lượng acid uric trong máu, giảm cholesterol...

Canh tôm: Món ngon ngày hè

Tôm là thực phẩm dễ mua và là món ăn bổ dưỡng với hàm lượng canxi cao. Đặc biệt protit của tôm là loại protit rất quý. Trong mùa hè này, hãy nấu món canh tôm mát bổ cho cả nhà nhé.


Nguyên liệu:

150 gr. tôm sú
150gr. bắp bao tử
1 củ cà rốt
50 gr. nấm thủy tiên trắng
50 gr. nấm đông cô
Rau thơm
Hạt nêm, mắm, đường

Cách làm:

- Tôm bóc vỏ, bỏ đầu, rửa sạch, ướp với mắm, hạt nêm, đường. Bắp xắt đôi.

- Cà rốt xắt miếng. Nấm đông cô khía 4 cho vào ngâm muối loãng. Nấm thủy tiên ngâm muối loãng.

- Đun sôi nước, thả tôm, nấm vào nấu, nêm thêm nước mắm, hạt nêm. Cho cà-rốt vào đun khoảng 3 phút.

- Sau đó, tiếp tục cho ngô non vào, đun thêm 2 phút.

- Múc canh ra tô, rắc rau thơm.

Cá chép to như người

Mặc dù nhiệt độ âm 3 độ C, Martin Locke, 47 tuổi, đến từ Kent (Anh) vẫn dũng cảm nhảy xuống hồ Rainbow gần Bordeaux (Pháp) và may mắn bắt được con cá chép lớn nhất thế giới với trọng lượng 42,6kg.

Bất chấp thời tiết giá lạnh, những người đi câu khác thấy vậy đã chạy đến vây quanh chúc mừng Martin Locke vì đã lập kỷ lục thế giới mới. Với tên hiệu Lockey’s Lump, chú cá chép sau đó đã được chụp ảnh trước khi thả xuống hồ trong tình trạng sức khỏe tốt.

Với kích cỡ này, chú cá chép có trọng lượng tương đương với ca sĩ người Australia Kylie Minogue và vượt qua kỷ lục của con cá chép trước đó 1,3kg.

Kỳ lạ con cá có hàm răng giống người

Một người đi câu tại khu vực phía nam Ural của Nga đã bắt được con cá kỳ lạ có hàm răng giống con người trên một hồ nhỏ cách thành phố Chelyabinsk khoảng 40km.

Câu chuyện xảy ra vào một buổi sáng rất yên tĩnh hồi tháng 9 năm ngoái. Ông Valery đang ngồi câu cá trên thuyền và hơi buồn ngủ. Bỗng dưng, ông nhìn thấy một cái lưới trong đám bụi rậm.

Ông Valery quyết định đưa cái lưới lên khỏi mặt nước. Có vài con cá chết trong đó nhưng một con khá to và vẫn còn sống. Hình dạng đầu và thân mình nó rất lạ. Ông Valery đã cố gắng gỡ con cá ra khỏi lưới nhưngrất sợ hãi khi nhìn thấy hàm răng trắng trong miệng nó, vốn rất giống với răng người.

Ông Valery vứt con cá lại bên hồ và vội vã trở về nhà. Ông quay lại vào hôm sau nhưng con cá đã chết. Ông quyết định mang con cá về và cho bạn bè cùng xem.

Người câu cá đặt con cá kỳ lạ dưới một lớp muối dày để bảo quản nó. “Tôi hi vọng nó sẽ thu hút sự chú ý của các nhà khoa học trước khi nó bị phân hủy”, ông nói.

Các nhà ngư học cho hay con cá lạ giống loài cá trâu miệng rộng, tên gọi Ictiobus. Loài này thường được nuôi trong vùng vào những năm 1980.

Nhưng các nhà ngư học Nga tin rằng con cá mà ông Valery bắt gặp không phải là sản phẩm của sự biến đổi từ cá trâu, vì sự biến đổi như vậy mất hàng trăm năm. Tuy nhiên, họ vẫn chưa giải thích chính xác được hiện tượng lạ này.

Một con cá với hàm răng giống người tương tự cũng bị bắt tại Texas cách đây không lâu, nặng 6,5kg. Các nhà khoa học cho hay đó là một con cá piranha, thường xuất hiện ở Nam Mỹ.

"Rồng phun bóng" - hiện tượng bí ẩn trên sông Mê Kông

Ngày 4/10/2009, khi người dân và du khách đang đứng xếp hàng trên rìa sông, đột nhiên từ mặt sông hàng chục quả bóng sáng màu hồng vụt bay lên, giống như một dàn giao hưởng.



Ở Thái Lan có một hiện tượng tự nhiên thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học. Năm nào cũng vậy, cư dân địa phương thường tụ tập dọc sông Mê Kông (tỉnh Nong Khai) để được tận mắt chứng kiến những quả cầu ánh sáng bay lên khỏi mặt sông. Người ta gọi đó là "man fai paya nak" hay "bóng rồng phun".




Vào ngày 4/10/2009, khi người dân và du khách đang đứng xếp hàng trên rìa sông, đột nhiên từ mặt sông hàng chục quả bóng sáng màu hồng vụt bay lên, giống như một dàn giao hưởng. Du khách và người dân phấn khởi cùng nhau vỗ tay hoan hô vang trời. Chỉ một vài phút sau, những quả bóng lửa biến mất vào bầu trời đêm.

Hiện tượng này thường xảy ra chỉ trong khoảng từ 1-3 ngày trong một năm, vào ngày cuối của của Lễ Phật giáo của người Thái thường được tổ chức vào tháng 10. Khi xuất hiện, những quả bóng không tạo ra âm thanh hay khói, đôi khi có màu đỏ, hồng hoặc màu trắng. Chúng có thể bay lên đến 100m cách mặt sông và chỉ có thể được nhìn thấy vào ban đêm.



Theo truyền thuyết địa phương, có một con rồng sống dưới sông và người ta tin rằng những quả cầu lửa là do con rồng phun ra . Người dân cho biết họ thấy hiện tượng này từ lâu lắm rồi.

Lời giải của các nhà khoa học

Những quả cầu lửa chỉ là một hiện tượng tự nhiên, có thể giải thích bằng khoa học. Chúng là “tác phẩm” của sự bốc cháy khí tự nhiên. Thậm chí có một bác sĩ đã tự mình tiến hành nghiên cứu trong một thời gian dài, ông chứng minh rằng chính trầm tích mêtan bốc lên từ lòng sông là “thủ phạm” gây ra hiện tượng này.




Tuy nhiên, Bộ Khoa học Thái Lan lại có quan điểm khác. Họ nhất trí nguyên nhân là do khí tự nhiên, nhưng đây là kết quả của sự bốc cháy photphin.

Tại sao hiện tượng này chỉ xảy ra vào tháng 10? - Vì sự tích tụ của khí ở dưới đáy sông lên đến đỉnh điểm vào tháng 10. Khi đó, khí tích tụ từ lâu sẽ bùng lên thành những quả bóng có ánh sáng huyền bí.

Những nền văn minh bị lãng quên

Khoa học kỹ thuật dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng còn rất nhiều điều thuộc về quá khứ vẫn chưa được con người khám phá hết. Trong đó những nền văn minh cổ đại bị lãng quên là một trong những bí ẩn đã tốn khá nhiều công sức tìm tòi và nghiên cứu của các nhà khảo cổ và khoa học trên thế giới.



Atlantis thực sự ở đâu?

Con người đã từng được biết đến lục địa Atlantis qua tác phẩm của nhà triết học Hy lạp cổ đại lừng danh Plato, trong đó Atlantis được miêu tả là một hòn đảo tuyệt đẹp và phát triển về khoa học công nghệ. Tuy nhiên, tác giả đề cập rất chung chung nên không ai biết Atlantis ở đâu, đã từng tồn tại trên Trái Đất hay không. Atlantis được xem là đạt tới đỉnh cao vinh quang hơn 11 nghìn năm trước, nhưng nó chỉ xuất hiện trong thư tịch khoảng 2.350 năm trước, từ 359 đến 347 năm trước Công nguyên. Do đó, nhiều người cho rằng Atlantis không hề có thực, còn những người tin vào sự tồn tại của nó thì đi kiếm tìm bằng chứng và manh mối trên mọi ngóc ngách của Trái Đất. Ngày nay, dựa trên những tài liệu đáng tin cậy, người ta đã xây dựng được rất nhiều giả thuyết khác nhau về lục địa này. Có giả thiết cho rằng Atlantis là vùng đất bao gồm Antarctica, Mehico, vùng biển ngoài khơi của Anh, bờ biển ngoài khơi của Cu Ba. Nhà tiên tri Edgar Cayce tiên đoán tàn tích của Atlantis nằm đâu đó gần quần đảo Bermuda. Năm 1969, những khối đá nhiều hình thù được tìm thấy gần đảo Bimini khiến người ta tin rằng lời tiên đoán của Cayce là đúng.




Những chuyến thám hiểm tới lục địa Nam Mỹ

Từ lâu, người ta đều biết rằng Christopher Columbus là người đầu tiên phát hiện ra Nam Mỹ, nhưng ít ai để ý tới nền văn minh đã từng tồn tại từ rất lâu trên vùng đất này. Tại đây, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những đồng xu La Mã và Hy Lạp, vật dụng bằng gốm của người Do Thái cổ và của người châu Á tại Mỹ và Mexico, tượng thần Isis và Osiris của người Ai Cập tại Mexico. Ngoài ra còn có những dấu vết chứng minh sự hiện diện của người Ai Cập tại hẻm núi Grand Canyon. Những chuyến thám hiểm châu Mỹ cũng được nhắc đến trong thần thoại và văn học dân gian của nhiều dân tộc. Như vậy, người thổ dân đã từng sống ở đây hàng thế kỷ trước khi Christopher Columbus đặt chân tới, và dĩ nhiên những người thổ dân đã từng có những nền văn minh riêng của họ. Tuy nhiên, cho đến nay con người có được rất ít thông tin về những chuyến thám hiểm trước thời của Christopher Columbus và nền văn minh đã từng tồn tại nơi đây.

Cá voi biết hát

Cá voi xanh trưởng thành dài chín mươi bộ và một con cá voi lớn cân nặng một trăm năm mươi tấn! Vì vậy cũng không đáng ngạc nhiên khi ta biết cá voi xanh phát ra những âm thanh mạnh nhất và sâu nhất trong các loài động vật. Tiếng rên rỉ của cá voi xanh là một âm thanh phức tạp có thể trầm hơn mọi giới hạn nghe được của con người. Những âm thanh đó mạnh đến nỗi chúng có thể đi xuyên qua đại dương. Và vì thính giác của chúng rất nhạy, có thể cho rằng cá voi xanh đã "trò chuyện" với nhau qua hàng ngàn dặm dưới nước

Một loài cá voi nhỏ hơn, cá voi lưng gù có thể phát ra nhiều âm thanh khác nhau với một giọng trầm bổng: rên rỉ, khụt khịt, rít the thé, lầu bầu, tắc lưỡi, huýt sáo, lải nhải, lục cục, gầm gừ, nức nở, thỏ thẻ và cả những âm thanh ầm ầm như sấm nữa. Cá voi lưng gù còn biết làm nhiều trò ngộ nghĩnh hơn. Chúng hát. Thực ra, chúng có thể phát ra nhiều âm thanh khác nhau với một giọng trầm bổng: rên rỉ, khụt khịt, rít the thé, lầu bầu, tắc lưỡi, huýt sáo, lải nhải, lục cục, gầm gừ, nức nở, thỏ thẻ và cả những âm thanh ầm ầm như sấm nữa.

Bài hát của cá voi lưng gù rất mê hoặc. Chúng hát đi hát lại nhiều lần, từng nốt một, trong suốt thời kỳ tìm bạn đời của chúng ở vùng nước ấm ngoài khơi Hawaii, vùng Baja California và Caribbean. Những thành viên của cùng một nhóm cá voi luôn luôn hát cùng một bài, hoặc gần như vậy. Vì thế, cá voi bắc Thái Bình Dương hát một bài, cá voi Đại Tây Dương hát một bài khác. Điều đáng ngạc nhiên là mỗi năm bài hát của chúng mỗi khác. Sau tám tháng đi xa kiếm ăn, cá voi lại trở về vùng nước ấm của mình để hát khúc aria vang vọng của năm trước và thêm vào vài đoạn hoàn toàn mới.

Dùng lá trầu trị bệnh cho thủy sản

Lá trầu được chiết xuất, tạo ra chế phẩm sinh học với tên gọi Bokashi - Trầu, có khả năng phòng trị một số bệnh cho động vật thủy sản, an toàn sinh học và thân thiện với môi trường. Hợp chất Bokashi - Trầu do TS. Nguyễn Quang Linh cùng các cộng sự ở Khoa Thủy sản - Đại học Nông lâm Huế nghiên cứu, chế tạo và vừa được đưa vào sản xuất đại trà.

Thay thế nhiều loại kháng sinh

Chế phẩm lần đầu tiên được sản xuất trong nước này được kết hợp từ các vi sinh vật hữu ích EM (Effective Microorganisms) với chất chiết xuất từ lá trầu (có tên khoa học là Piper betle) để phòng ngừa và điều trị bệnh cho một số loài thủy sản.

Tiến sĩ Nguyễn Quang Linh cho biết: “Chế phẩm sinh học Bokashi - Trầu có khả năng ức chế và tiêu diệt 2 loài vi khuẩn Vibrio Parahaemoliticus và Aeromonas hydrophyla, đây là hai loài vi khuẩn gây bệnh phổ biến trên thủy sản nước ngọt và nước lợ”. Với chức năng trên, chế phẩm có thể thay thế nhiều chất kháng sinh khác để phòng ngừa, cũng như điều trị bệnh động vật thủy sản, đặc biệt các loài tôm và cá đang được nuôi trồng hiện nay. Nhiều hộ nuôi tôm tỉnh Thừa Thiên - Huế đã sử dụng chế phẩm Bokashi - Trầu để phòng và chữa bệnh cho tôm và lươn nuôi. Tại ấp xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, chế phẩm đã điều trị sạch bệnh cho hơn 50ha tôm sú bị bệnh phân trắng. Đặc biệt, tôm hùm bị bệnh sữa của nhiều hộ nuôi tôm hùm ở vịnh Thông Phong, tỉnh Khánh Hòa cũng đã được chữa khỏi nhờ chế phẩm. Nhờ vậy, nhiều hộ thu hoạch hiệu quả hơn nhiều so với sử dụng các chất kháng sinh. Bokashi - Trầu có giá khoảng 100.000 đồng/lít, thấp hơn ½ so với giá thành các sản phẩm có cùng tác dụng, trong khi đó chất lượng không hề thua kém. Bên cạnh đó, nó có dạng dung dịch nên dễ sử dụng. Đối với 1ha diện tích nuôi, với quy mô bán thâm canh (mật độ 10 - 15 con/m2) chỉ cần 15 - 20 lít Bokashi - Trầu có thể phòng và trị bệnh tốt cho cả vụ nuôi.

Do được chiết xuất từ thiên nhiên nên Bokashi - Trầu có thể khắc phục được những ô nhiễm về môi trường. Ông Đặng Duy Hinh, xã Quảng An (Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) cho biết từ khi sử dụng Bokashi - Trầu để phòng và trị bệnh cho tôm, sau mỗi vụ nuôi nguồn nước vẫn đảm bảo, không cần phải dùng hóa chất để khử trùng, và sản lượng tôm thu hoạch hiệu quả và chất lượng tôm đảm bảo hơn nhiều.

Tiến sĩ Nguyễn Quang Linh cho biết sẵn sàng chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm cho các doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm có chất lượng an toàn.

Tác nhân gây bệnh “mòn vây, cụt đuôi” trên cá biển nuôi tại Việt Nam

Xem hình

Ảnh cá bệnh và tác nhân gây bệnh (Ảnh(1) (2) của Đồng Hà; (3) (4) của Đỗ Thị Hòa)

Bệnh “mòn vây cụt đuôi” là bệnh khá phổ biến trên cá biển nuôi . Tên bệnh được gọi theo dấu hiệu bệnh lý, cá bệnh thường có màu sắc cơ thể đen tối, vây bị mòn cụt, đặc biệt cơ đuôi thường bị hoại tử nặng để lộ rõ xương cột sống (ảnh 1 và 3).

Ở Khánh Hòa, có khoảng 30% hộ nuôi cá biển bị chịu tác hại của bệnh này. Bệnh có thể xảy ra ở nhiều loài cá biển nuôi như cá mú, cá chẽm, cá hồng. Giai đoạn cá nhỏ (5-20cm), nuôi lồng thường chịu tác hại nặng hơn giai đoạn cá lớn. Tỷ lệ chết có thể đạt 50-100%, đây là bệnh không có mùa vụ rõ ràng (Đỗ Thị Hòa, 2008).

Tại Khánh Hòa tháng 7/2008 chúng tôi đã gặp bệnh này trên cá chẽm (Lates calcarifer) cỡ 5-6 cm nuôi tại bè của trường đại học Nha Trang – Vũng Ngán, bệnh lây lan rất nhanh và gây chết 100% cá trong vòng 1 tuần. Khi cá trong lồng bị bệnh chúng tôi còn quan sát được một số loài cá khác sống xung quanh lồng cũng có dấu hiệu cụt đuôi tương tự. (Ghi nhận của Đồng Hà).

Một loại vi khuẩn gram âm, hình que dài, cong mềm mại thường được quan sát thấy trên tiêu bản mô cơ đuôi của cá bệnh smear nhuộm gram (ảnh 2). Đây là một loại vi khuẩn khó tính, rất khó nuôi cấy bằng các loại môi trường tổng hợp thông thường. Môi trường Cytophaga agar pha bằng nước biển là môi trường thích hợp nhất để phân lập vi khuẩn này. Đỗ Thị Hòa và ctv, 2008 đã phân lập được một loại vi khuẩn là Flexibacter sp có đặc điểm sinh hóa tương tự Flexibacter maritimus từ cá bệnh. Tuy nhiên, vi khuẩn này lại mọc khá tốt trên môi trường Nutrient agar có bổ sung 2%NaCl, đây là đặc điểm khác chính giữa chủng vi khuẩn phân lập cá mú bị cụt đuôi tại Khánh Hòa với các chủng Flexibacter trong các tài liệu tham khảo khác.

Nhiều tài liệu cho rằng đây là một loại vi khuẩn có phương thức vận động rất đặc biệt gọi là “vận động trượt” (gliding bacteria). Nên khi mọc trên đĩa thạch khuẩn lạc thường lan rộng giống dạng dễ cây. Có thể quan sát sự vân động của vi khuẩn bằng cách đơn giản như sau: Cấy vi khuẩn thành đường thẳng lên trên một tấm lam vô trùng đã được tráng một lớp thạch CA mỏng, ủ 24h sau đó đạy lamen và quan sát trên kính hiển vi.

Để khẳng định tác nhân gây bệnh thí nghiệm gây nhiễm nhân tạo với vi khuẩn Flexibacter sp bằng các phương pháp khác nhau như: tiêm dưới da, cho vi khuẩn vào nước, hay đặt khúm vi khuẩn vào đuôi và miệng. Sau 10 ngày thí nghiệm tỷ lệ chết của cá ở các lô có thể đạt từ 15-60%, cá chết không thể hiện dấu hiệu cụt đuôi nhưng những đã thể hiện các dấu hiệu như mất nhớt, tạo thành các mảng trắng trên thân, vây xơ xác. Từ kết quả này nhóm nghiên cứu đã khẳng định Flexibacter sp là tác nhân gây bệnh mòn vây cụt đuôi trên cá biển nuôi. Ngoài Flexibacter sp, nhiều loại vi khuẩn khác như Vibrio spp, Pseudomonas spp cũng là tác nhân cơ hội của bệnh này. (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2008)

Kỹ thuật nuôi xen canh tôm - cua - cá

Mô hình nuôi xen canh tôm cua cá đã tạo sự cân bằng sinh thái, hạn chế sự ô nhiễm, phì dưỡng trong quá trình nuôi tôm tạo, giảm dịch bệnh, tăng sản lượng thu hoạch, đem lại hiệu quả kinh tế, góp phần phát triển nghề nuôi tôm theo hướng ổn định, bền vững. Sau đây là một số lưu ý kỹ thuật để áp dụng thành công mô hình này.

Cải tạo vùng nuôi tôm: Trồng cây chịu mặn (mắm, bần, đước…) trong vùng triều (vùng nuôi tôm): trước bờ ao, vùng cạn của mương nước thải, vùng bãi bồi của ao….

Chuẩn bị ao: Tháo cạn nước đáy ao, nạo vét mùn bã hữu cơ ra khỏi ao nuôi, tu sửa lại những nơi xung yếu, lấp hết những lỗ mội để tránh thất thóat nước, thẩm lậu. Gia cố cống, làm đăng lưới chắn quanh cống phía trong ao. Rắc vôi nhằm tiêu diệt mầm bệnh, cải tạo pH đáy. Bón vôi lần 1 kết hợp phơi nắng (lượng vôi 700-1.000kg/ha). Cày lật đáy, bón vôi lần 2 kết hợp phơi nắng đáy ao (lượng vôi 700-1.000kg/ha), tùy giá trị pH đáy ta bón với liều lượng khác nhau. San bằng nền đáy.



Chuẩn bị nước: Theo dõi kết quả quan trắc môi trường, chọn đợt nước tốt lấy nước vào ao qua lưới lọc được làm bằng vải ka tê hay vải thun. Chiều dài: 10-15 m, miệng túi bằng miệng cống. Lấy liên tục cho đủ nước 1,2 m, đóng cống không cho nước thẩm lậu. Dùng thuốc diệt tạp (saponin) để khử các loại cá ăn thịt và các lòai cạnh tranh thức ăn với tôm theo tỷ lệ 50kg/ha (vào ngày nắng), 100kg/ha (vào ngày nhiều mây) . Tùy thuộc vào độ mặn của ao nuôi mà ta sử dụng với liều lượng khác nhau : Độ mặn > 20%o, liều dùng 30-60kg/ha, Độ mặn < 20%o, liều dùng 45-75 kg/ha. Bón phân bò, phân gà khô (300kg/ha) và phân urê (8kg/ha). Khi màu nước xanh nâu hoặc màu lá chuối non ta lấy túi phân ra khỏi ao. Môi trường đạt yêu cầu Độ kiềm : > 80ppm, Oxy hòa tan : > 4ppm, NH3 : < 0,1 ppm, Nhiệt độ nước : 28-32oc, PH nước : 7,5-8,5, Độ trong : 35-45 cm, Độ mặn : > 10%o tiến hành thả giống.

Chuẩn bị giống: Trong ao nuôi, ngoài đối tượng chính mang lại nguồn lợi kinh tế, ta thả thêm một số đối tượng khác để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, hoặc chất thải của đối tượng chính nhằm tạo cân bằng môi trường đem lại hiệu quả cao gọi là nuôi xen canh. Thông qua những đối tượng nuôi xen có các đặc điểm sống thích hợp trong vùng nuôi tôm, không ăn tôm, cá ăn mùn bả hữu cơ. Mục đích của việc nuôi xen canh nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm thiểu dịch bệnh đem lại hiệu quả kinh tế cao cho vùng nuôi.

Tôm giống: Khi nuôi ghép với cá, giống tôm sú cần đạt cỡ giống 3-5cm. Tùy theo điều kiện ao đìa, khả năng đầu tư chúng ta có thể thả giống 5-10con/m2. Nên lấy postlarvae đã được kiểm dịch MBV và WSSV về ương trong giai khoảng 20 ngày để đạt cỡ giống. Kích thước giai : 5m x 20m x 1,5m; mật độ ương : 500-1.000 post 15/m2. Giai đặt trong ao nuôi. Thả giống lúc nhiệt độ thấp (7-10 giờ sáng). Ưu điểm ương trong giai là dễ quản lý, chăm sóc cho ăn, tính được tỉ lệ sống, chất lượng giống, qua đó lọc bỏ tôm yếu giúp tạo đàn giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, khi đưa ra môi trường ao nuôi sẽ phát triển tốt.

Cua giống: Nên thả cua giống được sản xuất nhân tạo, khỏe mạnh, có kích cỡ đồng đều, từ 1,5 cm trở lên. Thời điểm thả cua tránh mùa nắng nóng, mật độ 0,2con/m2. Ta có thể tận dụng giai ương tôm để ương cua bột, trong giai đặt các bó chà làm giá thể cho cua trú ẩn, mật độ cua bột thả trong giai là 50 con/m2.

Cá giống: Cỡ cá từ 15-20g/con, mật độ thả ghép 0,05-0,1con/m2. Chú ý: Ương thả tôm trước khi thả cá từ 10-15 ngày. Có thể nuôi cá trong 5-7 % diện tích ao nuôi ở trung tâm được làm thành lồng lưới hình tròn hay vuông, hoặc chắn ở góc ao nuôi, gồm 2 lớp lưới, cố định lưới bằng khung tre (mắt lưới ngoài 1-2 mm, lưới trong 10-15 mm), sau 50-60 ngày nuôi tháo bỏ lớp lưới ngoài. (đảm bảo tôm không vào trong lồng và cá không ra ngoài lồng) . Tùy vào môi trường ao nuôi mà ta lựa chọn loài cá để nuôi ghép: Với ao có độ mặn > 20%o thả cá rô phi đỏ, rô phi đen, cá chua (cá măng). Vùng có độ mặn < 20%o ta thả cá rô phi đơn tính. Nên thuần hóa độ mặn cho cá trước khi thả. Một số điểm cần lưu ý: cá chua là loài sống rộng muối, ăn tạp, trong tự nhiên cá ăn phiêu sinh thực vật, mùn bả hữu cơ, thảm thực vật đáy (rong đáy), trong ao nuôi sử dụng tốt thức ăn chế biến. Cá rô phi: Ăn tạp, sống rộng muối. Trong tự nhiên ăn động thực vật phù du và mùn bã hữu cơ. là loài có khả năng sinh sản của chúng trong ao rất lớn, vì thế nuôi xen canh trong ao tôm cần chú ý. Cá rô phi đỏ (Cá điêu hồng) sống và phát triển được ở độ muối 0-25%o. Cá rô phi vằn đơn tính dòng GIFT có khả năng sống, phát triển tốt ở độ muối 0-20%o và không có khả năng sinh sản.

Chăm sóc quản lý: Chế độ cho ăn: Chỉ cho ăn đối tượng chính là tôm sú, cho ăn 2-4 lần/ngày tùy theo mật độ thả. Khẩu phần cho ăn từ 2-5% trọng lượng thân (thức ăn viên). Nên cho ăn tập trung chủ yếu vào ban đêm để tránh tình trạng cá tranh ăn thức ăn của tôm.

Chế độ thay nước: Sau khi thả tôm khoảng 1 tháng tuổi, bắt đầu thay nước. Tùy thuộc vào con nước, có thể thay 2-4 lần/con nước.

Hằng ngày vào sáng sớm, kiểm tra sức khỏe tôm. Thường xuyên kiểm tra môi trường nước, tốc độ phát triển của tôm, cua, cá để có những biện pháp tích cực kịp thời nhằm đem lại hiệu quả cao cho vụ nuôi.

Thu hoạch: Sau thời gian 3 tháng nuôi có thể thu hoạch. Lúc này cá có thể đạt trọng lượng từ 100-200g/con, cua khoảng 250g/con và tôm sú thương phẩm 20-30g/con. Sản lượng đạt trung bình 1,3 tấn/ha.

Quảng Ngãi: Ngư dân thiếu an toàn khi ra khơi

(TSVN) - Trang bị đầy đủ các phương tiện thiết bị để hành nghề trên biển là bảo vệ chính mình, thế nhưng nhiều ngư dân Quảng Ngãi vẫn vi phạm quy định an toàn khi đánh bắt hải sản trên biển.

Tai nạn rình rập



Những năm gần đây, giông lốc, bão tố xảy ra trên biển ngày càng nhiều, nên đã có nhiều tàu thuyền trong tỉnh bị hư hại và bị chìm. Theo thống kê của Sở NN&PTNT Quảng Ngãi, chỉ tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã có 323 chiếc tàu bị chìm (riêng bão số 9 có 289 tàu). Nguyên nhân, ngoài do bão, còn có phần chủ quan của chủ tàu và thuyền trưởng đã không trang bị tín hiệu (gồm đèn, chuông còi), nên bị va chạm khi vào các cửa biển hoặc đâm phải nhau khi đi đánh cá ban đêm giữa trùng dương.



Con tàu là mồ hôi, công sức, là nhà của ngư dân. Khi xảy ra tai nạn trên biển hoặc ở các cửa biển, tàu bị hư hỏng, bị chìm, ngư dân phải vay mượn để sửa lại hoặc trục vớt. Có khi đành phải bỏ luôn tàu dưới đáy biển khơi và từ chủ tàu, họ trở thành người đi bạn.



Chuẩn bị kỹ ngư dân sẽ an toàn hơn khi đi biển Ảnh: Đức Lợi



Nhưng người đi biển nếu không trang bị đầy đủ các phương tiện cứu hộ, cứu nạn, không chấp hành đúng những quy định về đánh bắt hải sản trên biển, thì nguy hiểm càng lớn.



Mất tài sản, ngư dân xót, của nhưng còn xót hơn, khi có những tàu vi phạm quy định về an toàn trên biển, rồi xảy ra sự cố, nhiều ngư dân đành nằm lại biển khơi, bỏ lại vợ con nơi quê nhà phải đối mặt với nhiều khó khăn. Biết bao lần bão tố đến, những người mẹ, người vợ ở xóm chài ven biển Quảng Ngãi phải thấp thỏm chờ đợi tin chồng, con từ khơi xa và cầu mong cho họ vượt qua sóng gió.



Từ đầu năm đến nay, Thanh tra Sở NN&PTNT đã phát hiện 56 trường hợp vi phạm vì không trang bị thiết bị cứu sinh, đèn hành trình, thuyền trưởng, máy trưởng không đảm bảo bằng cấp. Khi kiểm tra phát hiện, nhiều ngư dân vi phạm quy định về an toàn "xuýt xoa" cho rằng, không đủ điều kiện để trang bị hoặc chưa hiểu rõ, nên chưa trang bị các phương tiện. Còn khi đặt vấn đề, vì sao chưa qua lớp đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thì họ cho rằng, bận nhiều việc, ngày đêm họ ở biển khơi đánh bắt cá để kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình.



Ông Ngô Văn Hưng, Phó Chi cục KT&BVNLTS, cho biết: Theo quy định của pháp luật, để đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động trên biển, trước hết chủ tàu, thuyền trưởng cần tuân thủ và trang bị các phương tiện, thiết bị tối thiểu trên tàu cá, như: phao cứu sinh, phao bè, phao tròn, trang bị thông tin liên lạc, máy icom, máy bộ đàm, radio, trực canh nghe thông báo thời tiết, trang bị hàng hải, la bàn từ, ra đa, máy đo sâu, dò cá, trang bị tín hiệu, đèn xanh, đỏ, đèn cột, đèn lai trắng, phương tiện cứu hỏa, trang bị chống đắm, chống thủng... nhưng hầu hết các tàu thuyền đều thiếu các phương tiện, thiết bị này.



Vi phạm vì thiếu hiểu biết



Đối với ngư dân, mỗi chuyến đi biển là đối mặt với vô số mối nguy hiểm trên biển và ai cũng mong cho mình được an toàn trở về nhà. Nhưng, có nhiều ngư dân quan niệm mang các thiết bị phòng ngừa xuống tàu ra khơi là tự mình "trù" mình bị nạn, nên họ không muốn mang phao cứu hộ, cứu sinh xuống tàu. Có nhiều tàu trang bị phao cứu hộ, cứu sinh theo kiểu đối phó (bỏ trong khoang để phục vụ sự kiểm tra của ngành chức năng).



Một bộ phận ngư dân đánh cá ven bờ thường sử dụng phao làm bằng tấm xốp, chứ không chịu bỏ tiền để trang bị phao cứu hộ, cứu sinh đúng quy định. Những ngư dân đánh bắt hải sản trong lộng, nhiều người đi biển bằng kinh nghiệm, chứ không trang bị những phương tiện như rađio, không có bộ đàm để liên hệ và theo dõi thời tiết trên biển.



Nhiều ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ, quanh năm suốt tháng lo đánh bắt ngoài khơi, bỏ qua các khóa học máy trưởng, thuyền trưởng, mà chỉ lái tàu bằng kinh nghiệm, nên khi xảy ra những vụ va chạm trên biển với những tàu nước ngoài thì họ chỉ hiểu lờ mờ những ám hiệu, những quy định về đi lại trên các tuyến hàng hải quốc tế.



Những vấn đề này, trước đây Sở Thủy sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã khuyến cáo rất nhiều, nhưng thực tế vẫn còn có tàu vi phạm. Có tàu, sau khi hạ thủy đánh bắt nhiều năm mà vẫn không đăng ký tàu thuyền. Đến khi Nhà nước ra quyết định hỗ trợ dầu cho ngư dân, thì phát hiện rất nhiều tàu không đăng ký đăng kiểm, trên tàu thiếu nhiều trang thiết bị để đảm bảo an toàn khi hoạt động trên biển.



Trước thực tế này, bên cạnh việc tăng cường công tác tuyên truyền về an toàn trên biển, Sở NN& PTNT cần phối hợp với các địa phương và Bộ đội Biên phòng tỉnh tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những tàu thuyền vi phạm quy định an toàn nghề cá. Đồng thời, bản thân ngư dân phải có ý thức trong việc trang bị phương tiện thông tin liên lạc, phao cứu hộ, cứu sinh... khi hành nghề trên biển, nhằm đảm bảo an toàn cho những chuyến ra khơi.

Trung Quốc phải chấm dứt việc bắt giữ ngư dân Việt Nam

(TSVN) - Ngày 14/12, Trung ương Hội Nghề cá Việt Nam đã gửi văn bản tới Đại sứ quán nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, phản đối phía Trung Quốc tái diễn bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam.

Cực lực phản đối và lên án



Công văn nêu rõ: Trong các ngày 7 và 8/12, khi đang hành nghề trên vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì 3 tàu cá của ngư dân xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), gồm: QNg 66398-TS của ông Dương Lúa, trên tàu có 14 lao động; QNg 66119-TS của ông Lê Văn Lộc, trên tàu có 15 lao động và QNG 96004-TS của ông Lê Tân, trên tàu có 14 lao động, đã bị phía Trung Quốc dùng lực lượng bắt giữ và áp giải.



Ông Nguyễn Tấn lự - 1 trong những chủ tàu bị Trung Quốc bắt giữ hồi tháng 8/2009 đã trở về




Phía Trung Quốc đã cáo buộc tàu cá và ngư dân Việt Nam vi phạm chủ quyền Trung Quốc và sử dụng chất nổ trái phép. Sự thật là, Trung Quốc đã đưa những bao được cho là thuốc nổ trong kho của họ xuống tàu của ngư dân Việt Nam để quay phim, chụp hình. Sau đó ép các ngư dân Việt Nam chép lại và ký vào biên bản có nội dung mà phía Trung Quốc đã soạn sẵn. Phía Trung Quốc cũng đã thu giữ 2 tàu, cùng số cá mà ngư dân đánh bắt được, và những thiết bị, ngư cụ, nhiên liệu, tổng giá trị trên 2 tỉ đồng.



Hội Nghề cá Việt Nam cực lực phản đối và lên án những hành động bắt giữ người, tịch thu, phá hoại tài sản của ngư dân Việt Nam mới đây cũng như đánh đập, ngược đãi ngư dân Việt Nam trong đợt tàu cá của ngư dân tránh bão số 9 (Ketsana) trên đảo Trụ Cầu thuộc quần đảo Hoàng Sa ngày 28/9/2009.



Hội Nghề cá Việt Nam cực lực phản đối những hành động đối xử thiếu nhân đạo, vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam cũng như Luật biển quốc tế, và đề nghị phía Trung Quốc phải chấm dứt ngay tình trạng này, không để lặp lại những hành động tương tự, đồng thời phải bồi thường thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.



Ngư dân chuẩn bị thực phẩm để ra khơi - Ảnh: Đức Lợi



Tiếp tục ra biển



Cũng trong ngày 14/12, UBND tỉnh Quảng Ngãi có văn bản yêu cầu Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng và Công an tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục thu thập thông tin, chứng cứ và đề xuất hướng xử lý, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 20/12. Ông Trương Ngọc Nhi, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, cho biết: trên cơ sở này, UBND tỉnh Quảng Ngãi sẽ có văn bản gửi Chính phủ và Bộ Ngoại giao phản đối hành động vô lý của phía Trung Quốc và yêu cầu thả vô điều kiện các tàu cá của ngư dân Việt Nam, đồng thời bồi thường cả vật chất và tinh thần cho ngư dân.



Đại tá Bùi Phụ Phú, Phó chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng Quảng Ngãi cho biết, hồ sơ vụ việc đang được gấp rút hoàn chỉnh để gửi các cơ quan chức năng. Hiện 43 ngư dân ở xã An Hải, huyện Lý Sơn cũng đã cử người đại diện làm đơn tố cáo hành động vây bắt, tịch thu tàu hết sức vô lý của phía Trung Quốc khi các ngư dân đang hành nghề trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.



Điều đáng nói, đây không phải là lần đầu tiên trong năm Trung Quốc bắt giữ một cách vô lý ngư dân và tàu cá Việt Nam. Theo Hội Nghề cá Việt Nam, từ đầu năm 2009 đến nay, phía Trung Quốc đã bắt giữ 4 vụ với 17 tàu cá và 210 ngư dân Việt Nam. Hiện tại, Trung Quốc mới thả 13 tàu cùng 210 ngư dân; còn 4 tàu và toàn bộ trang thiết bị của ngư dân vẫn đang bị phía Trung Quốc bắt giữ.



Các ngư dân bị bắt giữ, tịch thu tàu cá, ngư cụ... không chỉ bị thiệt hại về vật chất, mà còn bị ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, nhất là khi Trung Quốc dùng nhiều thủ đoạn, từ đánh đập đến tạo dựng chứng cứ giả... để uy hiếp tinh thần, thể hiện sự vi phạm trắng trợn chủ quyền Việt Nam.



Ông Võ Xuân Huyện, Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn, cho biết: dù phía Trung Quốc cố tình ngăn cản nhưng ngư dân huyện đảo vẫn tiến ra Hoàng Sa, vì đó thuộc chủ quyền của Việt Nam. Những thuyền đánh cá của ngư dân chính là cột mốc di động, khẳng định biên cương chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa. Đó cũng là bằng chứng khẳng định những tường trình của ngư dân là xác thực và không thể chối cãi.

Sông Thị Vải: Nước đã trong, sao tôm vẫn chết, cá cua không về

Dòng sông Thị Vải trong thời gian gần đây nước đã trong xanh trở lại. Điều này khiến cho rất nhiều người dân sống quanh đây khấp khởi mừng thầm vì đã có thể quay lại với nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản. Nhưng hi vọng của họ bị tắt ngấm khi nuôi tôm, tôm chết, đánh bắt thì được lèo tèo vài con cá, cua.

Chúng tôi có mặt tại bến Cây Me, xã Phước Thái, Long Thành, Đồng Nai. Đây là một xóm nhỏ, người dân ở đây đa phần sống chủ yếu dựa vào việc nuôi trồng, đánh bắt tôm, cá từ sông Thị Vải. Tuy nhiên, trong vòng 4 tháng trở lại, nghề chài lưới của họ gặp khó khăn do lượng tôm, cá ở đây giảm một cách đáng kinh ngạc, dù đang vào mùa đánh bắt.

Ông Đỗ Minh Trí, cựu chiến binh, ngụ tại số 179, tổ 3, ấp 1B, xã Phước Thái là một người làm nghề đóng đáy trên sông Thị Vải nhiều năm ngán ngẩm cho biết: Trước đây một ngày đóng đáy thu được từ 8 đến 10kg tôm, cá, nhưng nay giỏi lắm chỉ được từ 1,2 đến 2kg. Cả xóm bến Cây Me hiện có đến gần chục hộ dân sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập đóng đáy trên sông Thị Vải. Thế nhưng lượng cá, tôm không về khiến cho cuộc sống họ vốn đã nghèo nay còn nghèo thêm. Đặc biệt là việc đầu tư ban đầu cho một dàn đáy lên đến gần cả trăm triệu đồng, phần nhiều là vay mượn để mua sắm.

Không riêng gì những người đánh bắt thủy sản gặp vận hạn mà nhiều chủ ao nuôi tôm trắng tay, đổ nợ vì thả tôm nuôi đến đâu, tôm chết đến đó. Anh Trần Văn Lẹo một chủ ao nuôi tôm ở Ấp 1A, xã Phước Thái có ao nuôi tôm hơn 1 ha cách nhà máy Vedan 1km cho biết: Gần đây, do thấy nước trong xanh, không đen, không có mùi hôi như trước, nên đánh liều cắm sổ đỏ vay ngân hàng, người thân 70 triệu đồng đầu tư cải tạo lại ao nuôi, xử lý nguồn nước, mua thức ăn, con giống...

Tuy nhiên, sau khi thả tôm nuôi được 15 đến 20 ngày thì tôm chết hàng loạt... Lúc đầu cứ nghĩ là do con giống, nên liều làm thêm lứa nữa nhưng tôm vẫn chết nên đành bỏ ao không. Anh cho biết hiện anh đang nợ ngân hàng 20 triệu đồng, nợ chủ thức ăn cho tôm 45 triệu đồng. Để có tiền trả nợ, anh đang rao bán ao, nhưng bán cũng chẳng ai mua. Trường hợp anh Hoàng Sơn Cường ngụ tại ấp 1B, xã Phước Thái còn bi đát hơn khi đầu tư gần 200 triệu đồng, nuôi 6 vụ tôm liên tiếp (5 vụ tôm thẻ, một vụ tôm sú) đều xảy ra hiện tượng tôm chết.

Sau 6 vụ nuôi tôm thất bát, giờ đành để ao không cùng với khoản nợ tiền thức ăn cho tôm là 60 triệu đồng, nợ tiền ngân hàng là 100 triệu đồng. Anh cho biết ban đầu thấy tôm chết cũng như nhiều bà con ở đây nghĩ là do con giống. Tuy nhiên sau khi thay giống mà tôm vẫn cứ chết, lại chết hàng loạt ở nhiều ao nuôi khác nhau nên bà con chúng tôi mới biết nguyên nhân chính là nguồn nước “trong xanh” được bơm vào ao tôm từ sông Thị Vải. Anh Cường khẳng định, toàn ấp này, nhà nào nuôi tôm đều có tôm bị chết, nên tổng diện tích ao nuôi hơn 30 ha của cả ấp đều bỏ trống.

Ông Lương Văn Trường, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phước Thái cho biết: Trước đây, môi trường bị ô nhiễm, song nhiều hộ nuôi tôm trong xã xử lý kỹ nguồn nước vẫn có thể nuôi được. Thế nhưng từ khi nguồn nước sông Thị Vải được Công ty Vedan xử lý, khắc phục sự cố gây ô nhiễm môi trường lại xảy ra hiện tượng tôm chết hàng loạt. Chỉ tính riêng trong thời gian từ cuối năm 2008 đến nay, Hội Nông dân xã đã nhận 1.470 đơn, thư của bà con nông dân phản ánh về việc tôm chết hàng loạt do nguồn nước được lấy vào ao nuôi từ sông Thị Vải.

Ông Trường cho biết thêm: “Hiện nay bà con cho rằng nguồn nước sông Thị Vải là nguyên nhân chính làm chết tôm, cá. Bởi theo họ, trong thời gian qua, Công ty Vedan đã tiến hành xử lí làm sạch nguồn nước sông Thị Vải bằng một hóa chất nào đó (?!)... Và chính hóa chất này là nguyên nhân”. Tuy nhiên, sự việc trên theo ông Trường chỉ là dự đoán của người dân, còn thực tế cần phải có sự kiểm chứng của các nhà khoa học mới đi đến kết luận.

Bên cạnh nguồn nước sông Thị Vải vẫn còn ô nhiễm, thì vấn đề ô nhiễm không khí và nguồn nước ngầm ở đây cũng đang ở tình trạng đáng báo động. Theo ông Trường cho biết, nhiều người dân trong xã thời gian qua phản ánh tình trạng mái tôn lợp nhà rất nhanh bị oxy hóa bề mặt, dù thời gian sử dụng chưa được 1 đến 2 năm.
Bên cạnh đó việc sản xuất nông nghiệp của bà con cũng bị ảnh hưởng, một số hộ dân trồng cây ăn trái phản ánh tình trạng ra hoa nhưng không kết trái ngày một nhiều. Theo một thống kê mới đây nhất của UBND xã Phước Thái, thời gian qua, số người chết do mắc bệnh ung thư chiếm đến hơn 50% tổng số người chết trong toàn x

Cá voi, cá heo kêu cứu

CMS kêu gọi chính phủ các nước cần tăng cường các nỗ lực bảo vệ cá voi

Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) và Liên minh Quốc tế Bảo tồn thiên nhiên (IUCN) vừa lên tiếng báo động về số lượng các loài cá voi và cá heo đang giảm nhanh trên toàn cầu do hoạt động đánh bắt hải sản của con người.

Theo UNEP và IUCN, các loài cá voi có răng đang bị suy giảm mạnh nhất vì bị thương và chết do bị vướng vào các phương tiện đánh bắt hải sản như lưới rà, bẫy, đăng và lưới kéo.

Thiếu thức ăn và buộc phải thay đổi nguồn thức ăn hàng ngày do các loài cá vốn là thức ăn của cá voi đã bị khai thác cạn kiệt hiện cũng là mối đe dọa sống còn đối với 13 loài cá voi trên biển và đại dương.

Lần đầu tiên, IUCN và Công ước Bảo tồn các loài động vật hoang dã di trú (CMS) đã đưa 72 loài cá voi có răng vào danh sách các loài cần được bảo vệ.

Thư ký chấp hành CMS Elizabeth Mrema cho biết, trong Năm Quốc tế Đa dạng sinh học 2010, CMS tiếp tục cảnh báo về các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của các loài động vật có vú trong đại dương, trong đó có cả nguy cơ do biến đổi khí hậu và đánh bắt kiểu "tận diệt". CMS cũng kêu gọi chính phủ các nước cần tăng cường các nỗ lực bảo vệ cá voi./.

Nhờ Trung Quốc cứu hạn sông Mekong

Thủ tướng Thái Lan hôm qua thông báo nước này sẽ yêu cầu Trung Quốc trợ giúp trong nỗ lực đối phó với mực nước thấp kỷ lục của Mekong, dòng sông liên quan tới cuộc sống của hơn 60 triệu người.


Đoạn sông Mekong nằm giữa biên giới Thái Lan và Lào. Ảnh: outweb.info.

AFP dẫn thông báo của Ủy ban sông Mekong (MRC) cho biết, dòng chảy sông Mekong đang ở mức thấp nhất trong 20 năm qua, đe dọa hoạt động cung cấp nước, giao thông đường thủy và tưới tiêu.

"Chúng ta có thể thấy mực nước sông ngày càng thấp. Tình hình này ảnh hưởng tiêu cực tới miền bắc Lào, miền bắc Thái Lan và phía nam Trung Quốc", Thủ tướng Thái Lan Abhisit Vejjajiva phát biểu trên truyền hình.

Ông Abhisit cho biết, ông sẽ yêu cầu Bộ Ngoại giao Thái Lan thảo luận với đại diện của Trung Quốc về hoạt động hợp tác nhằm nâng mực nước sông Mekong.

Giới truyền thông nói rằng các nhà hoạt động môi trường Thái Lan thúc giục chính phủ đàm phán với Bắc Kinh sau khi mực nước sông Mekong liên tục xuống thấp. Tờ Bangkok Post dẫn lời Save the Mekong Coalition - một liên minh gồm nhiều tổ chức bảo vệ môi trường - nói các đập thủy lợi tại Trung Quốc khiến mực nước sông Mekong giảm nghiêm trọng.

Theo Jeremy Bird, giám đốc điều hành ban thư ký MRC, lượng mưa quá thấp tại Lào và Trung Quốc cũng là một nguyên nhân.

"Chúng tôi không thể khẳng định tuyệt đối rằng những đập thủy điện trên đoạn sông Mekong thuộc Trung Quốc không liên quan tới tình trạng suy giảm mực nước ở hạ nguồn sông", AFP dẫn lời Bird.

Chavanond Intarakomalyasut, thư ký Bộ Ngoại giao Thái Lan, tuyên bố Bangkok không cáo buộc bất kỳ ai, đồng thời nói rằng lượng mưa thấp đang gây nên hạn hán ở nhiều nơi trong khu vực.

"Chúng tôi muốn giải quyết khó khăn cùng với Trung Quốc", ông Intarakomalyasut nhấn mạnh.

MRC cho hay hơn 60 triệu người ở vùng châu thổ hạ nguồn sông Mekong phụ thuộc vào dòng sông trong các hoạt động đánh bắt thủy sản, làm ruộng, giao thông vận tải. Sông Mekong cũng là nơi sinh sống của nhiều loài cá quý hiếm nhất thế giới. Các công ty du lịch đã ngừng cung cấp dịch vụ trên đoạn sông nằm giữa tỉnh Luang Prabang và thành phố Huay Xai thuộc Lào do mực nước quá thấp

Thiên nhiên kỳ thú - Suối cá thần Cẩm Lương

Suối có tên là suối Ngọc, nằm dưới chân núi Trường Sinh. Suối ăn thông vào một hang ngầm ở trong núi, to nhỏ, nông sâu chưa ai biết. Độ dài của suối, tính từ cửa hang, chỉ độ vài, ba trăm mét, rộng có chỗ 6, 7 mét; chỗ sâu nhất là cửa hang, chỉ ngập quá bắp đùi người trưởng thành; chỗ cạn nhất như nước trên mặt ruộng, lội chỉ ngập mắt cá chân. Trong suối có nhiều cá to, nhỏ, không ai dám bắt, ăn, dân địa phương gọi là cá thần.



Hàng năm, từ ngày 8 đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch, bà con dưới chân núi Trường Sinh, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy lại tề tựu bên hang Cá Thần mở hội tế thần núi, thần sông, thần cá. Thần cá ở Cẩm Lương không phải vô hình, trừu tượng mà là cả một bầy cá đông đúc tới hàng vạn con, lớn có, bé có. Lớn, to bằng bắp chân, nặng cả chục kg; bé, chỉ bằng ngón tay, nặng chỉ vài chục gram.

Theo truyền thuyết, cá thần nơi đây không phải từ cá sinh ra cá, mà là từ rắn…sinh ra. Chuyện kể rằng, có một cặp vợ chồng, một hôm ra suối, nhặt được một quả trứng lạ (không biết trứng gì). Một thời gian sau, trứng lạ nở ra một con rắn. Con rắn không bò ra núi, ra sông mà ở lại cùng sinh sống với gia đình. Một hôm, trời nổi bão giông, gia chủ không thấy rắn ở đâu nữa, vội cùng dân làng rủ nhau đi tìm, thì thấy xác rắn nằm bên bờ suối. Dân làng thương tiếc, lập bàn thờ rắn ngay bên suối, gọi là đền thờ Chàng Rắn. Khi đền xây xong, bỗng xuất hiện dưới suối một đàn cá hàng ngàn con. Cá này, mình tròn tựa cá trắm, to tròn ở phần giữa thân, có vảy như vảy cá chép nhưng màu xanh, hai bên mép có vòng đỏ tươi, vây và đuôi có chấm đỏ, mỗi khi bơi rẻ nước, cá phát ra một luồng ánh sáng (không giống với các loại cá có da màu trắng như cá trôi, cá chép, cá chày… mà dân làng thường thấy).

Như vậy, nguồn gốc thờ cá thần ở Cẩm Lương hoàn toàn khác với nguồn gốc cá thần ở những nơi khác (chẳng hạn như thờ cá Ông ở duyên hải miền Trung), nhưng có điểm chung là, dân không dám bắt ăn. Có người nói, cá ở suối Ngọc, Cẩm Lương, dân không ăn còn là vì cá chỉ ăn vi khoáng từ núi đá vôi phong hóa, nên thịt cá ăn rất nhạt. Nhưng cũng có câu chuyện, vào những năm tám mươi, do đói kém, có người đã bắt cá ở đây về ăn. Khi đưa cá vào nồi định nấu thì giông bão nổi lên, sấm chớp đùng đùng, làm sập nhà và chủ nhân thì bị sét đánh, cháy xám cả da thịt.

Người dân cũng kể rằng, trong bày cá hàng nghìn con này, có một con cá to, cỡ bằng “chân voi”, nặng khoảng 30 - 40 kg, hai mang có 2 vòng đỏ như đeo khuyên tai, mắt có hai mí xanh đỏ, đuôi có một chấm đỏ viền xanh, là con “cá chúa”. “Cá chúa” chỉ xuất hiện vào một ngày đặc biệt (không rõ ngày nào) trong năm. Tương truyền, đó là ngày “cá chúa” ra suối để gặp Chàng Rắn.

Tôi đã đến hang cá thần này nhiều lần, nhưng tuyệt nhiên chưa thấy một con cá nào to bằng cỡ “cá chua” như dân trong vùng thường kể. Có người nói, cách nay dăm bảy năm, do miệng hang cá bỗng nhiên bị sụp xuống, nên “cá chúa” bị nhốt lại ở phía trong. Có lẽ “cá chúa” bị nhốt ở trong nên bầy “cá thần” chỉ sống quanh quẩn bên hang để được gần và “ bảo vệ cá chúa”. Thực tế, dù mưa bão, suối ngập, nước tràn, chảy lênh láng khắp nơi, nhưng cá vẫn không theo nước chảy mà dời đi nơi khác. Thậm chí, chẳng may cá bị nước cuốn trôi xa, nếu nước khe không giúp cá quay lại được, thì cá “kiên quyết” nằm lại, đầu vẫn hướng về hang cá. Thành lệ, người dân Cẩm Lương, cứ sau mỗi đợt lũ to, họ lại đi tìm cá thần bị mắc cạn để đưa chúng về suối cũ. Người dân ở đây tin rằng, nếu cá ở suối thần này càng nhiều thì cuộc sống của người dân càng no ấm, phồn vinh.

Tuy có cả nghìn con cá quẩy cựa, vùng vẩy, nhưng nước suối ở đây không đục bao giờ mà trong vắt, nhìn rõ từng viên đá cuội long lanh dưới đáy suối. Những khi có ánh nắng mặt trời soi chiếu, nước suối trở nên lóng lánh lạ kỳ, bởi sự phản xạ của những viên đá cuội này.

Cá nhiều như vậy, nhưng nước tuyệt nhiên không có mùi tanh. Người dân vẫn tắm giặt, thậm chí còn sử dụng để nấu ăn. Đây cũng là một sự kỳ lạ, làm cho cõi tâm linh của người càng thêm xao động.



Khuôn viên sinh sống của cá thần, mắt thường thấy được là, suối theo đúng nghĩa chỉ rộng khoảng 4 m, dài 20 m. Quá 20 m là phía hạ nguồn, dài độ 300m, rộng độ 40mm2. Chỗ sâu nhất là ở cửa hang, cũng chỉ quá bắp đùi người một chút. Suối được thông ngầm vào trong lòng núi, chưa ai biết sâu, rộng trong đó thế nào. Ngày ngày, sáng sớm cá từ hang ngầm bơi ra để vui chơi là chính và kiếm ăn. Nơi cá tập trung đông đúc nhất là ở ngay cửa hang, và thường là những con cá nặng từ 2 kg trở lên. Cá nhỏ, như trẻ nhỏ ham chơi, bơi chơi và kiếm ăn xa hơn một chút. Nhưng, xa tới đâu thì xa, hễ mặt trời khuất núi là chúng lại lũ lượt quay về, chui vaò hang ngầm, để …ngủ. Chúng hiền lành và thân thiện vô cùng. Bạn có thể sờ vào nó, vuốt ve nó, cho nó ăn trên lòng tay của bạn. Động tác ăn của chúng cũng rất tự tin. Cái miệng đỏ tươi khẽ trườn lên tay bạn, nhẹ nhàng đớp lấy thức ăn, rồi nhẹ nhàng quẩy đuôi lặn xuống.

Sự tích xuất hiện cá thần hiện vẫn còn minh chứng bởi dấu tích của đền thờ Chàng Rắn ngay bên suối. Đền được xây dựng từ thế kỷ thứ 14. Lời khấn thần, trẻ con trong vùng, nhiều em vẫn còn thuộc, trong đó có đoạn: “Chàng Rắn, chàng Rồng/ Ba đầu, chín mắt/Vảy sắt, răng đồng/Mắt to bằng núi Cồng/Mồng to bằng lá cọ/ Trừ quái lập công/ Ơn ông to bằng bể/Công ông to bằng trời.

Ngày nay, suối cá thần Cẩm Lương đã thành địa chỉ du lịch hấp dẫn của tỉnh Thanh Hóa. Nghe nói, có hai, ba công ty đang lập dự án khu du lịch sinh thái ở đây. Hy vọng, dự án sớm được triển khai, để tương lai không xa, suối cá thần Cẩm Lương sẽ là địa chỉ du lịch sinh thái hút khách.

Suối có tên là suối Ngọc, nằm bên chân núi Trường Sinh, bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, cách Tp Thanh Hóa gần 100km về phía Tây – Bắc.

Đi đường bộ lên thăm: Từ Tp Thanh Hóa hướng lên phía Tây- Bắc, qua cầu Vạn Hà, đến thị trấn Kiểu, rẽ trái, đi độ 20 km nữa là đến; hoặc đi ca nô tốc độ cao: Từ bến cầu Hàm Rồng, ngược dòng sông Mã, lên thị trấn Cẩm Thuý, đi đường bộ thêm 3 km nữa là đến suối cá thần.

Bạn cũng có thể đến suối cá thần Cẩm Lương từ đường Hồ Chí Minh

Xuất khẩu nông sản cán đích 15 tỷ USD

Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản năm 2009 sẽ đạt khoảng 15,3 tỷ USD. Mặc dù so với năm 2008, con số này giảm 8% nhưng vẫn vượt dự kiến xuất khẩu hồi đầu năm (12 tỷ USD) và chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao (14 tỷ USD).

Lượng tăng, giá giảm

Theo thống kê sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), tính đến 20/12/2009, tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản ước đạt khoảng 15 tỷ USD, trong đó nông sản đạt trên 8 tỷ USD, thuỷ sản trên 4 tỷ USD, lâm sản trên 2 tỷ USD...

Có thể nói, tổng thể “bức tranh” xuất khẩu nông sản năm2009 là sự đan xen giữa các “gam màu” sáng tối, đó là bên cạnh sự vượt trội về lượng của một số mặt hàng (đơn cử như gạo, xuất khẩu trong 11 tháng đã vượt hơn cả năm 2008), là sự sụt giảm đáng kể về kim ngạch của nhóm hàng nông sản chủ lực.

Đây là lý do xuất khẩu năm 2009 tăng mạnh về lượng, nhưng giá trị kim ngạch tăng không tương xứng.

Năm 2009, những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn đều giảm như gạo, thuỷ sản, đồ gỗ, cao su.

Một số mặt hàng có mức tăng đột biến so với năm 2008 (như hạt điều đạt kim ngạch 850 triệu USD, rau quả ước đạt 350 triệu USD, chè ước đạt 180 triệu USD, đáng chú ý là mặt hàng sắn xuất khẩu đạt kỷ lục với giá trị kim ngạch đạt 800 triệu USD...). Tuy nhiên, do đây là nhóm hàng chiếm tỷ trọng thấp trong xuất khẩu nông sản, nên mức tăng không bù được cho sự sụt giảm của nhóm hàng nông sản chính.

Theo nhận định, nguyên nhân chính khiến giá nông sản trên thị trường giảm sút là do sức cầu sụt giảm tại các thị trường chủ lực.

Theo Hiệp hội cao su Việt Nam (VRA), lượng cao su xuất khẩu năm 2009 ước đạt 650.000 tấn, tăng 5.000 tấn so với năm 2008, nhưng trị giá chỉ đạt khoảng 1,2 tỷ USD, giảm trên 300 triệu USD so với năm ngoái (năm 2008, Việt Nam xuất 645.000 tấn cao su với kim ngạch đạt 1,57 tỷ USD).

Theo bà Trần Thúy Hoa, Tổng thư ký VRA, trong 10 tháng đầu năm, cao su xuất khẩu mặc dù tăng tới 2,5% về lượng (đạt 539.000 tấn) nhưng kim ngạch chỉ đạt 823 triệu USD, giảm gần một nửa so với cùng kỳ năm 2008.

Tương tự như cao su, kim ngạch xuất khẩu cà phê cũng sụt giảm mạnh. Chủ tịch Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (VICOFA) Lương Văn Tự cho biết, khối lượng xuất khẩu năm 2009 là trên 1 triệu tấn nhưng giá trị kim ngạch chỉ đạt 1,8 tỷ USD, trong khi đó, lượng xuất khẩu của năm 2008 chỉ 1 triệu tấn, nhưng kim ngạch đạt tới 2,2 tỷ USD.

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu mặt hàng chè năm 2009 tăng khoảng 40 triệu USD so với năm 2008, nhưng theo đánh giá của ông Nguyễn Kim Phong, chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam (Vitas), sự tăng này chủ yếu do lượng xuất khẩu tăng, không phải do cải thiện về giá (giá chè xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng ½ của thế giới, trung bình 1,1 USD/kg trong khi của thế giới vào khoảng 2,2 USD/kg).

Nền kinh tế thế giới suy thoái khiến sức cầu của các thị trường nhập khẩu giảm. Điều này đã tác động đến giá của hầu hết các mặt hàng nông, lâm sản xuất khẩu. Đồ gỗ xuất khẩu cũng không tránh khỏi tác động đó.

Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch, tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, năm 2009 sức mua của thị trường EU giảm khoảng 30%, Mỹ giảm 10% so với năm 2008. Một yếu tố khác khiến kim ngạch xuất khẩu gỗ giảm là giá trị các hợp đồng xuất khẩu đều giảm 10% theo yêu cầu của các nhà nhập khẩu.

Theo ông Quyền, tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của cả năm 2009 ước đạt xấp xỉ 2,8 tỷ USD (bằng năm 2008). Sở dĩ đạt được con số này là do xuất khẩu tăng ở nhóm hàng lâm sản ngoài gỗ và gỗ chế biến, trong khi đồ gỗ nội thất và trang trí giảm mạnh...

Sự tăng giá trở lại của một số mặt hàng nông sản từ đầu tháng 11 đã góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu tới hàng triệu USD, như gạo tăng 200 USD/tấn, cao su tăng trên 200 USD/tấn, hồ tiêu tăng từ 39-180 USD/tấn... mặc dù vậy, song vẫn thấp hơn nhiều so năm 2008. Cụ thể, giá cà phê thấp hơn 600 USD/tấn; giá cao su thấp hơn 1.000 USD/tấn; giá gạo thấp hơn 204 USD/tấn... so với năm trước.

Chất lượng là then chốt

Lãnh đạo Bộ NN&PTNT nhận định, năm 2010 xuất khẩu nông lâm thuỷ sản sẽ trở nên khó khăn hơn, do không chỉ chịu tác động từ xu hướng siết chặt chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm của các thị trường nhập khẩu, mà còn do các quy định, đạo luật mới sẽ bắt đầu có hiệu lực thi hành.

Trong bối cảnh đó, sự thiếu ổn định về chất lượng một số mặt hàng nông, lâm thuỷ sản của Việt Nam khiến cho mối lo ngại về nguy cơ mất thị trường càng trở nên căng thẳng.

Theo ông Quyền, đạo luật “Sử dụng sản phẩm an toàn” của Hoa Kỳ quy định cực kỳ khắt khe, chẳng hạn như cấm 200 hoá chất không được sử dụng trong các loại vải, trong khi các DN đồ gỗ sử dụng rất nhiều vải đối với các sản phẩm xuất sang Hoa Kỳ, nhưng lại rất “lơ mơ” về quy định.

Đạo luật FLEGT của EU (có hiệu lực từ 2011) quy định tất cả các chuyến hàng gỗ xuất khẩu vào thị trường EU chỉ được cơ quan thẩm quyền cấp phép sau khi kiểm tra nguồn gốc xuất xứ .

Đây là một khó khăn rất lớn đối với ngành gỗ Việt Nam bởi không phải quốc gia, vùng lãnh thổ nào bán gỗ cho Việt Nam cũng thực hiện đầy đủ những quy định, trong khi việc nhập khẩu nguyên liệu của các DN Việt Nam lại vô cùng phức tạp.

Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội chế biến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) cho biết, ngoài việc phải đương đầu với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các vụ kiện chống phá giá, thuỷ sản Việt Nam còn gặp khó khăn lớn vì vấp đạo luật Farm Bill của Mỹ.

Bên cạnh đó, là quy định IUU có hiệu lực từ 1/1/2010, bắt buộc mỗi lô hàng thuỷ sản xuất khẩu sang EU phải tuân thủ quy định về khai thác hợp pháp, đó là phải có cam kết của nhà máy chế biến về nguồn gốc sản phẩm, Giấy chứng nhận khai thác, bản sao giấy chứng nhận khai thác. Các giấy tờ này phải được cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu xét duyệt trước khi hàng về đến cửa khẩu của nước đó.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lương Lê Phương khẳng định, các mặt hàng nông, lâm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sẽ khó bứt phá, nếu không nâng cao chất lượng. Theo ông Phương, để đáp ứng các quy định quốc tế, cần có các chính sách đồng bộ nhằm giải quyết dứt điểm tình trạng sản xuất manh mún, công nghệ chế biến thô sơ, mối quan hệ phức tạp giữa sản xuất-thu mua, năng lực chế biến và khả năng cung ứng nguyên liệu, ý thức của DN, người sản xuất...

“Để làm được việc này, cần hoàn thiện về khung pháp lý, chính sách hỗ trợ cho các DN, đặc biệt là tăng cường kết nối giữa cộng đồng các DN, hiệp hội, cơ quan chính sách...”, ông Phương nói.

Cổ phần hóa 16 doanh nghiệp ngành Nông nghiệp

Thủ tướng Chính phủ vừa yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa 16 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ.

Trường hợp đến ngày 1/7/2010 chưa cổ phần hóa được thì phải chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tiếp tục cổ phần hóa sau năm 2010.

Cụ thể, Thủ tướng yêu cầu triển khai cổ phần hóa tại 11 tổng công ty nhà nước, gồm: Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam, Chè Việt Nam, Xây dựng nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thủy sản Hạ Long, Thủy sản Việt Nam, Hải sản Biển Đông, Rau quả nông sản, Mía đường 1, Mía đường 2, Cơ điện - Xây dựng nông nghiệp và thủy lợi, Vật tư nông nghiệp.

5 công ty sẽ được cổ phần hóa trong đợt này, gồm: Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản thực phẩm Hà Nội (Tổng công ty Rau quả, nông sản), Cơ điện - Xây dựng nông nghiệp và thủy lợi Mê Kông (Tổng công ty Cơ điện - Xây dựng nông nghiệp và thủy lợi), MDF Gia Lai và Ván dăm Thái Nguyên (Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam), Mía đường Trà Vinh (Tổng công ty Mía đường 1).

Ngoài ra, Thủ tướng cũng cho phép Bộ giữ nguyên hai đơn vị hạch toán phụ thuộc là Xí nghiệp Chăn nuôi và Thức ăn gia súc An Khánh, Trung tâm kỹ thuật lợn giống Trung ương của Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam để sắp xếp cùng Công ty mẹ - Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam .

Đối với Xí nghiệp Truyền giống gia súc và Phát triển chăn nuôi miền Nam sẽ được chuyển về làm đơn vị hạch toán phụ thuộc của Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam và sẽ thực hiện sắp xếp cùng Công ty mẹ - Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam.

Riêng Công ty Xây và Tư vấn mía đường (Tổng công ty mía đường 1) được Thủ tướng cho phép giải thể hoặc phá sản.

Ngoài ra, Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo phương án sắp xếp Tổng công ty Dâu tằm tơ trong quý 1/2010.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện việc sắp xếp, chuyển đổi các doanh nghiệp nêu trên và quyết định chuyển đổi các tổng công ty nhà nước sang hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con.

Nông dân ĐBSCL trúng mùa, trúng giá lúa

TT - Ngày 18-2, ông Phạm Văn Dư - phó cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) - cho biết hiện nhiều tỉnh ở ĐBSCL đã bắt đầu vào vụ thu hoạch lúa đông xuân. Theo ông Dư, năng suất lúa đạt bình quân 6,5 tấn/ha trở lên.

Do gieo sạ đồng loạt từ tháng 1-2010 nên từ mồng 3 tết nông dân ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL đã ra đồng thu hoạch lúa. Ông Nguyễn Văn Hải (xã Mỹ Lợi B, huyện Cái Bè, Tiền Giang) cho biết chi phí sản xuất lúa vụ này khoảng 2.000 đồng/kg nhưng bán được 5.000 đồng/kg (trung bình lãi 20-25 triệu đồng/ha).

Ông Trương Thanh Phong, chủ tịch Hiệp hội Lương thực VN (VFA), cho biết từ vụ đông xuân này VFA sẽ thực hiện bảo hiểm giá lúa cho nông dân. Với chi phí sản xuất bình quân 2.200 đồng/kg, VFA quyết định bảo hiểm giá lúa 4.000 đồng/kg, đảm bảo nông dân có lãi hơn 40%.

* Sáng 18-2 (mồng 5 tết), tàu đánh cá lưới đèn của bà Hồng Hoa ở xã Trung Bình (Long Phú, Sóc Trăng) cập cảng Trần Đề trong niềm vui trúng đậm cá biển. Bà Hoa cho biết trừ chi phí thu lãi khoảng 70 triệu đồng.

Cùng ngày, cảng Gành Hào (Bạc Liêu) cũng có trên 50 tàu cập bến với cá đầy khoang. Ông Đỗ Chí Sỹ - chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Cà Mau - cho biết những ngày tết vừa qua, trên 50% tàu cá ở các cửa biển Khánh Hội, Sông Đốc, mũi Cà Mau... ra khơi đánh bắt thủy sản với khoảng 20.000 ngư dân ăn tết trên biển.

Đói’ hợp đồng xuất khẩu gạo

Xuất khẩu gạo những tháng đầu năm có dấu hiệu chững lại khiến Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) đang tính đến những phương án dự phòng nhằm đảm bảo lợi ích cho người trồng lúa.

Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo cho biết, ở thời điểm hiện tại rất khó kiếm được những hợp đồng mới đặc biệt là hợp đồng thương mại.

Theo VFA, lượng hợp đồng ký xuất khẩu gạo chưa được nhiều. Hiện lượng gạo đã ký chưa xuất chỉ còn hai triệu tấn, giảm 18,5% so với cùng kỳ. Ngay cả những hợp đồng đã ký nhưng chưa được đối tác thực hiện do giá gạo tại thị trường thế giới có chiều hướng giảm.

Hợp đồng xuất khẩu ít nên hiện giá lúa tại ĐBSCL đang giảm. Ảnh: Đặng Ngọc.

Theo ông Phạm Văn Bảy, Phó chủ tịch VFA, nhu cầu gạo tại châu Phi vẫn đang rất lớn, nhưng rất khó để có được những hợp đồng mới. Phần vì giá gạo vẫn ở mức cao so với khu vực này, phần khác, các nguồn tài chính hỗ trợ cho nơi đây chưa được “rót” vào do các nước giàu vẫn chưa thực sự hồi phục sau khủng hoảng kinh tế. Ông Bảy dự đoán, các đối tác châu Phi đang chờ đợi giá gạo giảm xuống để mua vào và thị trường sẽ sôi động trở lại vào cuối quý II năm nay. Thêm một khó khăn nữa tại thị trường châu Phi là từ nửa cuối năm 2009 đã xuất hiện thêm hai đối thủ cạnh tranh mới là Myanmar và Pakistan. Mặc dù chất lượng thua xa so với gạo Việt Nam, nhưng do giá chào bán thấp (khoảng 320 USD/tấn) nên nguồn gạo từ hai nước này đang chia dần miếng bánh thị phần ở châu Phi.

Hiện giá gạo xuất khẩu VFA đăng công khai trên mạng hướng dẫn các doanh nghiệp thương thảo ký kết hợp đồng vẫn là 470 USD một tấn (gạo 5% tấm). Các doanh nghiệp vẫn chờ những động thái tiếp tục nhập vào từ thị trường Ấn Độ và Indonesia.

Bảo đảm cho nông dân lãi 40% trong mọi trường hợp

Hiện đang là thời điểm thu hoạch rộ vụ lúa đông xuân tại ĐBSCL. Giá xuất khẩu giảm, tình hình giao dịch khó khăn khiến giá lúa tại khu vực này giảm, hiện giá lúa dao động từ 4.200 - 4.300 đồng một kg. Tuy nhiên, với mức giá này người trồng lúa vẫn có lãi trên 40%, vì theo tính toán của VFA giá thành làm ra một kg lúa trong vụ đông xuân chỉ khoảng 2.300 đồng.

Ông Nguyễn Thọ Trí, Phó tổng giám đốc Công ty lương thực miền Nam (Vietfood 2) cho biết, trong trường hợp giá lúa xuống dưới ngưỡng 4.000 đồng một kg, các thành viên trong hiệp hội sẽ mua vào dự trữ với số lượng lớn, đảm bảo cho người trồng luôn duy trì được mức lợi nhuận trên 40%. Đồng thời, từ năm nay, VFA cũng sẽ thay đổi phương thức thu mua lúa của nông dân tại ĐBSCL bằng cách tổ chức đội ngũ thương lái, nhà máy xay lúa thành các câu lạc bộ, tổ, nhóm… hoạt động như “lực lượng vệ tinh” cho các doanh nghiệp. Đội ngũ này sẽ vẫn đảm nhiệm công việc như trước đây là đi thu mua lúa về giao lại cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo nhưng không được phép đưa ra mức giá thu mua mà phải tuân theo giá do VFA đưa ra. Sau đó, doanh nghiệp sẽ chi tỷ lệ % cho thương lái, hoặc nâng giá thu mua cho thương lái cao hơn mức giá thu mua của nông dân. Cách làm này theo VFA là có thể hạn chế tình trạng thương lái ép giá người nông dân.

Khuyến cáo các hộ nuôi thủy sản ở ĐBSCL cần đa dạng hình thức nuôi

Theo Trung tâm Thông tin - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: trước tình hình nắng nóng, khô hạn kéo dài cộng với việc thiếu nước mặn nên số diện tích nuôi tôm bị thiệt hại cứ tăng dần theo mỗi ngày.



Các chuyên gia ngành Thủy sản khuyến cáo, các hộ nuôi ở các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cần mở rộng hình thức nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, tăng cường thức ăn tự nhiên, tạo màu trong nước nhằm không làm ô nhiễm môi trường Với hình thức nuôi trên, các hộ nuôi không thả tôm giống mật độ dày mà áp dụng như mô hình tôm lúa (2 - 3 con/m2/vụ), mở rộng mô hình nuôi tôm cộng đồng như theo tổ, nhóm nuôi cùng thả một loại tôm giống trong cùng thời điểm, vệ sinh ao nuôi, thống nhất cách phòng trị, duy trì mực nước trong ruộng tôm từ 0,5 m trở lên cho tôm khỏi sốc vì nắng hạn. Các biện pháp này ít gây ô nhiễm nước, hạn chế tình trạng tôm nhiễm bệnh, chi phí nuôi thấp nhưng cho năng suất ổn định. Bên cạnh đó, các địa phương hoàn thiện thêm một bước hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi thủy sản, tăng cường kiểm soát chất thải, kiểm tra, xử lý nghiêm các cơ sở, cá nhân gây ô nhiễm môi trường; siết chặt việc quản lý, kiểm soát con giống, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng đưa tôm giống kém chất lượng vào nuôi, tăng cường phổ biến đến nông dân kỹ thuật nuôi theo phương pháp khoa học. Thời tiết không thuận lợi cũng đã khiến cho một số vùng nuôi cá tra nguyên liệu ở ĐBSCL những ngày qua đang đối mặt với tình trạng khó khăn do nắng nóng gây ra. Nắng nóng gay gắt khiến nước trong ao nuôi bốc hơi nhanh, nhiệt độ nước biến động theo chiều hướng bất lợi. Nước ao bị bẩn nhanh do phần thừa của thức ăn bị ô nhiễm gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá tra. Trước thực trạng đó, nhiều hộ nuôi phải đối phó bằng cách thường xuyên bơm, xả bảo đảm đủ nước sạch, mát để cá tra không bị bệnh. Tuy nhiên, điều này cũng khó thực hiện lâu dài vì hầu hết các vùng nuôi lấy nguồn nước từ các kênh rạch. Trong khi đó, vào những ngày này nhiều con kênh cũng kiệt nước do hạn hán. Năm nay, các tỉnh ven biển ĐBSCL đưa 570.000 ha mặt nước vào nuôi tôm sú, chiếm 81% diện tích nuôi thủy sản tại ĐBSCL. Hiện nay, diện tích nuôi tôm có mức độ thiệt hại từ 20 - 80%, nhiều nhất tại các tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang. Nguyên nhân do tiêu thoát nước thải tại nhiều vùng nuôi chưa tốt đã gây ô nhiễm môi trường cục bộ, con giống kém chất lượng, nhiễm bệnh, nắng nóng kéo dài, độ mặn một số nới tăng quá cao làm cho tôm bị sốc môi trường chế hàng loạt và nhiều vùng nuôi thiếu nước nghiêm trọng.